WikiNhaDat.comWiki Nhà Đất
Thuật ngữ giao dịch nhà đất

Uỷ quyền trong giao dịch nhà đất là gì: hợp đồng, giấy uỷ quyền và bán bằng uỷ quyền

Uỷ quyền là việc một người cho người khác nhân danh mình xác lập giao dịch. Hợp đồng khác giấy uỷ quyền ra sao, vì sao "mua bán bằng uỷ quyền" là chuyển nhượng hụt.

Elderly Vietnamese man handing a fountain pen to his adult daughter across a dining table at home, both faces partly turned away, folded blank papers, warm lamp light

Uỷ quyền trong giao dịch nhà đất là việc chủ tài sản (bên uỷ quyền) cho một người khác (bên được uỷ quyền) nhân danh mình thực hiện một hoặc nhiều việc với nhà đất, như quản lý, cho thuê, làm thủ tục, ký hợp đồng bán. Theo Bộ luật Dân sự 2015, đây là một dạng đại diện: hành vi của người được uỷ quyền trong phạm vi uỷ quyền làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho chính chủ tài sản.

Điều cốt lõi: uỷ quyền không chuyển quyền sở hữu. Người được uỷ quyền, dù được toàn quyền bán, thế chấp, vẫn chỉ là người làm thay. Tài sản vẫn của bên uỷ quyền; tiền bán vẫn thuộc bên uỷ quyền; khi bên uỷ quyền chết, việc uỷ quyền chấm dứt.

Hai hình thức thường gặp là hợp đồng uỷ quyền, có sự đồng ý của cả hai bên, và giấy uỷ quyền, văn bản đơn phương của người uỷ quyền. Hiểu rõ bản chất này là cách nhận ra rủi ro của lối "mua bán bằng hợp đồng uỷ quyền" vẫn còn phổ biến.

Đại diện theo uỷ quyền: gốc của khái niệm

Bộ luật Dân sự chia đại diện thành hai loại: đại diện theo pháp luật, như cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, và đại diện theo uỷ quyền, do chính người được đại diện lựa chọn. Uỷ quyền trong nhà đất thuộc loại thứ hai. Người được đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân; người đại diện phải có năng lực phù hợp với việc được giao.

Hợp đồng uỷ quyền là thoả thuận theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền; bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và luật không quy định, hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm kể từ ngày xác lập.

Logic của đại diện là "người làm thay". Mọi giới hạn của uỷ quyền đều xuất phát từ logic đó: người làm thay không thể làm nhiều hơn chủ cho phép, không thể tự làm lợi cho mình bằng tài sản của chủ nếu chủ không đồng ý, và không còn ai để làm thay khi chủ không còn.

Hợp đồng uỷ quyền và giấy uỷ quyền

Hai hình thức này hay được dùng lẫn. Bảng dưới phân biệt theo thực tiễn công chứng và giao dịch nhà đất.

Tiêu chíHợp đồng uỷ quyềnGiấy uỷ quyền
Bản chấtThoả thuận hai bên, có nghĩa vụ của bên được uỷ quyềnVăn bản đơn phương của bên uỷ quyền
Ai kýCả bên uỷ quyền và bên được uỷ quyềnChủ yếu bên uỷ quyền
Ràng buộc bên được uỷ quyềnCó nghĩa vụ thực hiện công việc theo hợp đồngKhông buộc phải thực hiện
Thường dùng choBán, chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho nhà đấtViệc đơn giản như nộp hồ sơ, nhận kết quả, đại diện làm việc
Hình thức với nhà đấtThường công chứng hoặc chứng thực để được cơ quan, tổ chức chấp nhậnCó thể chứng thực chữ ký; phạm vi thường hẹp

Pháp luật về công chứng, chứng thực và thực tiễn của cơ quan đăng ký đất đai đặt ra yêu cầu hình thức cụ thể cho từng việc. Với việc định đoạt nhà đất như bán, thế chấp, hợp đồng uỷ quyền có công chứng là hình thức an toàn và thường được yêu cầu.

Phạm vi uỷ quyền: viết rõ đến đâu

Uỷ quyền theo vụ việc. Chỉ cho một việc cụ thể, như "ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số..., tờ bản đồ số... với giá không thấp hơn...". Rủi ro thấp nhất vì người được uỷ quyền không làm được gì khác.

Uỷ quyền theo nhóm việc. Như quản lý, cho thuê, thu tiền thuê, sửa chữa một căn nhà. Hữu ích cho người ở xa, nhưng cần giới hạn về tiền và về việc định đoạt.

Uỷ quyền toàn bộ. Cho phép quản lý, sử dụng, định đoạt, thế chấp, bán, tặng cho, nhận tiền. Đây là dạng nguy hiểm nhất: chủ tài sản trao gần như toàn bộ quyền năng cho người khác.

Uỷ quyền lại. Người được uỷ quyền chỉ được uỷ quyền lại cho người khác khi bên uỷ quyền đồng ý hoặc trong trường hợp luật cho phép, và phạm vi uỷ quyền lại không vượt quá phạm vi uỷ quyền ban đầu.

Giao dịch với chính mình. Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, người đại diện không được xác lập giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện, trừ khi pháp luật có quy định khác. Người được uỷ quyền bán nhà mà ký bán cho chính mình là vấn đề pháp lý thật, cần sự đồng ý rõ của chủ tài sản.

"Mua bán bằng hợp đồng uỷ quyền": vì sao là chuyển nhượng hụt

Trong nhiều năm, một lối làm phổ biến là: người bán nhận đủ tiền, rồi thay vì ký hợp đồng chuyển nhượng, ký hợp đồng uỷ quyền cho người mua "toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt" nhà đất. Lý do thường là tài sản chưa đủ điều kiện chuyển nhượng, muốn tránh thủ tục, hoặc muốn người mua bán lại nhanh cho người khác.

Về pháp lý, người "mua" lúc đó chỉ là người đại diện của người bán. Tài sản vẫn đứng tên người bán, thuộc tài sản của người bán. Rủi ro hiện ra ở ba chỗ. Một, bên uỷ quyền có thể đơn phương chấm dứt uỷ quyền theo quy định. Hai, khi bên uỷ quyền chết, uỷ quyền chấm dứt và nhà đất trở thành di sản cho người thừa kế của họ, không phải của người đã trả tiền. Ba, chủ nợ của bên uỷ quyền có thể yêu cầu kê biên tài sản vẫn đứng tên họ.

Ngoài ra, khi nội dung thật là mua bán mà hình thức là uỷ quyền, toà án có thể coi đó là giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng chuyển nhượng. Giao dịch giả tạo vô hiệu; giao dịch bị che giấu chỉ có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện, trong đó có hình thức. Người mua bằng uỷ quyền vì vậy đứng trên nền rất yếu.

Ví dụ giả định: chuỗi uỷ quyền ba đời

Ví dụ giả định: bà Liên uỷ quyền toàn bộ căn nhà cho ông Toàn, ông Toàn đã trả bà một khoản tiền tương đương giá nhà. Ông Toàn uỷ quyền lại cho chị Yến, cũng nhận tiền của chị. Trên giấy tờ, nhà vẫn đứng tên bà Liên.

Bà Liên qua đời. Theo Bộ luật Dân sự, đại diện theo uỷ quyền chấm dứt khi người được đại diện chết, nên cả chuỗi uỷ quyền mất căn cứ. Căn nhà thuộc di sản của bà Liên, người thừa kế của bà có quyền khai nhận. Chị Yến và ông Toàn chỉ còn con đường đòi lại tiền hoặc chứng minh trước toà rằng giữa các bên đã có giao dịch chuyển nhượng thật, một quá trình kéo dài và không chắc kết quả.

Ví dụ giả định này không hiếm trong thực tế giải quyết tranh chấp. Nó cho thấy uỷ quyền là công cụ tốt để nhờ người khác làm thay, và là công cụ tồi để thay cho chuyển nhượng.

Khi nào uỷ quyền chấm dứt

Hết thời hạn hoặc công việc đã xong. Uỷ quyền có thời hạn chấm dứt khi hết hạn; uỷ quyền theo vụ việc chấm dứt khi việc đã hoàn thành. Văn bản không ghi thời hạn thì áp dụng thời hạn luật định.

Một bên đơn phương chấm dứt. Bộ luật Dân sự cho cả hai bên quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng uỷ quyền, kèm nghĩa vụ báo trước và bồi thường tuỳ có thù lao hay không. Bên uỷ quyền chấm dứt phải báo cho người thứ ba đang giao dịch với người được uỷ quyền.

Bên uỷ quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố đã chết. Không còn người được đại diện thì không còn đại diện. Đây là căn cứ làm sụp đổ mọi lối "mua bán bằng uỷ quyền".

Bên được uỷ quyền chết hoặc không còn đủ điều kiện làm đại diện. Uỷ quyền gắn với nhân thân người được chọn, không tự chuyển sang người thừa kế của họ.

Pháp nhân uỷ quyền hoặc được uỷ quyền chấm dứt tồn tại. Với uỷ quyền giữa doanh nghiệp, việc giải thể, sáp nhập làm phát sinh câu hỏi về hiệu lực của uỷ quyền đang có.

Hệ quả thực tế. Giao dịch người được uỷ quyền ký sau khi uỷ quyền đã chấm dứt không ràng buộc bên uỷ quyền, trừ khi được chấp thuận hoặc người thứ ba ngay tình được bảo vệ theo quy định. Vì vậy, khi giao dịch với người được uỷ quyền, bên kia nên kiểm tra uỷ quyền còn hiệu lực ngay trước khi ký.

Những hiểu lầm hay gặp

Uỷ quyền là thủ tục quen, nhưng cách hiểu sai về nó tạo ra nhiều vụ tranh chấp nhất trong nhà đất.

  • "Được uỷ quyền toàn bộ là đã là chủ." Người được uỷ quyền chỉ làm thay; tài sản vẫn của bên uỷ quyền.
  • "Hợp đồng uỷ quyền không thời hạn thì vĩnh viễn." Uỷ quyền chấm dứt khi hết thời hạn, khi bên uỷ quyền chết, mất năng lực, hoặc khi một bên chấm dứt theo quy định. Không ghi thời hạn thì áp dụng thời hạn luật định.
  • "Công chứng uỷ quyền thì không ai huỷ được." Công chứng xác nhận tính hợp pháp của việc uỷ quyền, không ngăn việc chấm dứt uỷ quyền theo luật.
  • "Uỷ quyền bán thì người được uỷ quyền giữ tiền bán." Tiền bán thuộc bên uỷ quyền; người được uỷ quyền nhận thay phải giao lại, trừ khi có thoả thuận khác.
  • "Giấy uỷ quyền viết tay dùng bán nhà được." Việc định đoạt nhà đất cần hình thức uỷ quyền đáp ứng yêu cầu của công chứng và cơ quan đăng ký; giấy viết tay không đủ.

Khái niệm liên quan

Uỷ quyền chạm tới nhiều khái niệm khác trong giao dịch nhà đất.

  • Đại diện theo pháp luật: dạng đại diện không do chủ tài sản chọn, như cha mẹ với con chưa thành niên.
  • Chuyển nhượng quyền sử dụng đất: giao dịch thật sự chuyển quyền, khác hẳn uỷ quyền.
  • Giao dịch giả tạo: căn cứ vô hiệu khi uỷ quyền che giấu mua bán.
  • Công chứng: hình thức thường bắt buộc trên thực tế với uỷ quyền định đoạt nhà đất.
  • Thừa kế: con đường tài sản đi khi bên uỷ quyền chết và uỷ quyền chấm dứt.
  • Đồng sở hữu: tình huống cần uỷ quyền giữa các đồng chủ khi chỉ một người đi ký.

Đặt uỷ quyền cạnh các khái niệm này giúp thấy rõ ranh giới: uỷ quyền trả lời câu hỏi "ai được làm thay", còn chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế trả lời câu hỏi "tài sản thuộc về ai".

Câu hỏi thường gặp

Người ở nước ngoài uỷ quyền bán nhà ở Việt Nam thế nào?

Thường lập văn bản uỷ quyền tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc công chứng ở nước sở tại rồi hợp pháp hoá lãnh sự, tuỳ trường hợp, sau đó dùng tại Việt Nam. Cần hỏi tổ chức công chứng nơi sẽ ký hợp đồng bán về yêu cầu cụ thể.

Bên uỷ quyền có huỷ được hợp đồng uỷ quyền đã công chứng không?

Có thể đơn phương chấm dứt theo quy định của Bộ luật Dân sự: uỷ quyền không thù lao được chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước hợp lý; uỷ quyền có thù lao thì phải trả thù lao tương ứng và bồi thường nếu gây thiệt hại. Thủ tục thường làm tại tổ chức công chứng đã công chứng hợp đồng.

Vợ chồng có cần uỷ quyền cho nhau khi một người đi ký bán nhà chung không?

Nếu nhà là tài sản chung, người còn lại cần đồng ý; cách phổ biến là uỷ quyền bằng văn bản có công chứng cho người đi ký. Thiếu ý chí của một bên có thể làm giao dịch bị tranh chấp.

Người được uỷ quyền có phải chịu trách nhiệm nếu làm sai không?

Có. Người được uỷ quyền làm vượt phạm vi, làm trái lợi ích của bên uỷ quyền hoặc gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm theo hợp đồng và quy định về bồi thường. Giao dịch vượt phạm vi không ràng buộc bên uỷ quyền, trừ khi họ chấp thuận.

Uỷ quyền nhận tiền đền bù khi bị thu hồi đất có được không?

Được, nếu văn bản uỷ quyền ghi rõ việc này và đáp ứng hình thức cơ quan chi trả yêu cầu. Người uỷ quyền nên ghi rõ số tài khoản nhận tiền để giảm rủi ro.

Có nên nhận uỷ quyền thay vì sang tên khi mua nhà chưa có sổ?

Đây là lựa chọn rủi ro cao vì người mua không có quyền sở hữu. Nếu nhà chưa đủ điều kiện chuyển nhượng, nên tìm hiểu kỹ con đường hợp thức hoá và cân nhắc các biện pháp bảo đảm khác, hỏi luật sư trước khi trả tiền.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.