Tầng lửng là một sàn trung gian nằm trong khoảng chiều cao của một tầng nhà, thường là tầng trệt, có diện tích nhỏ hơn sàn của tầng ngay bên dưới và để hở một phần ra không gian bên dưới. Người ở tầng lửng thường nhìn xuống được tầng dưới qua lan can.
Tầng lửng hay bị gọi lẫn với gác xép (sàn phụ nhẹ, thường để đồ), tum (phần xây trên mái để che cầu thang, thang máy, bể nước) và tầng áp mái (tầng nằm trong không gian mái dốc). Bốn khái niệm này khác nhau về cấu tạo, công năng và cách được tính trong số tầng của công trình.
Mục từ giải thích nguồn gốc, bảng phân biệt, nguyên tắc tính tầng ở mức khái quát, ví dụ giả định và các hiểu lầm. Cách tính tầng, chiều cao cụ thể phải theo quy chuẩn, quy định quản lý xây dựng hiện hành của địa phương, nên kiểm tra khi xin phép.
Nguồn gốc: tận dụng chiều cao của tầng trệt
Tầng trệt nhà phố và cửa hàng thường được làm cao hơn các tầng trên vì cần thoáng, cần chỗ cho cửa cuốn, quầy hàng, xe máy. Khi chiều cao này đủ lớn, người ta chen thêm một sàn ở lưng chừng, chiếm một phần mặt bằng, để có thêm chỗ làm việc, chứa hàng hoặc ngủ, mà không phải nâng thêm một tầng đầy đủ.
Trong kiến trúc phương Tây, khái niệm tương tự là mezzanine, chữ gốc tiếng Ý, chỉ tầng nửa nằm giữa hai tầng chính. Ở các nhà ga, nhà hát, cửa hàng lớn, mezzanine là ban công nội thất nhìn xuống sảnh. Ở nhà ống Việt Nam, tầng lửng thường ở phía sau hoặc phía trước tầng trệt, phần còn lại để hở thành không gian cao gấp đôi, hay gọi là thông tầng.
Ở các khu phố buôn bán truyền thống, nhà ống có tầng trệt cao để bán hàng và một gác lửng phía sau để ở hoặc chứa hàng là hình mẫu quen thuộc qua nhiều thế hệ. Gác lửng thời trước thường bằng gỗ, gác lên dầm gỗ chôn vào tường; ngày nay phần lớn bằng bê tông hoặc khung thép. Tên gọi "gác lửng" trong dân gian vì thế được dùng lẫn cho cả gác xép nhẹ và tầng lửng thật, gây nhầm khi trao đổi với thợ và khi làm hồ sơ.
Vì tầng lửng là một sàn thật, có kết cấu, có cầu thang, có người ở hoặc làm việc thường xuyên, nó khác gác xép tạm thời. Điều này cũng là lý do quy chuẩn xây dựng phải định nghĩa rõ tầng lửng, để phân biệt với một tầng đầy đủ khi tính số tầng, chiều cao và các yêu cầu an toàn.
Phân biệt bốn khái niệm
Bảng dưới phân biệt ở mức khái niệm. Cách tính vào số tầng phụ thuộc định nghĩa trong quy chuẩn hiện hành và hồ sơ được cấp phép.
| Khái niệm | Vị trí | Đặc điểm cấu tạo | Công năng thường gặp |
|---|---|---|---|
| Tầng lửng | Trong chiều cao một tầng, thường tầng trệt | Sàn kết cấu, diện tích nhỏ hơn sàn tầng dưới, có cầu thang cố định | Làm việc, ngủ, kho hàng, phòng khách phụ |
| Gác xép | Trong chiều cao một phòng | Sàn phụ nhẹ (gỗ, thép), có khi tháo được, thang leo hoặc thang nhỏ | Chứa đồ, chỗ ngủ tạm |
| Tầng tum | Trên mái | Phần xây nhỏ che lối lên mái, cầu thang, phòng máy thang máy, bể nước | Che cầu thang, kỹ thuật, có khi kết hợp kho nhỏ, chỗ giặt phơi |
| Tầng áp mái | Trong không gian mái dốc | Tường bị mái dốc cắt, chiều cao thông thuỷ thay đổi | Phòng ngủ, phòng làm việc, kho |
Điểm chung của cả bốn là chúng đều tận dụng không gian "phụ" của ngôi nhà. Điểm khác quan trọng nhất là mức độ thường xuyên có người sử dụng, vì nó quyết định yêu cầu về chiều cao, lan can, thoát nạn.
Tầng lửng có tính là một tầng không
Đây là câu hỏi được tìm nhiều nhất, vì số tầng ảnh hưởng tới giấy phép, chỉ tiêu quy hoạch và thủ tục. Theo cách tiếp cận chung của quy chuẩn xây dựng Việt Nam, tầng lửng không được tính vào số tầng của công trình khi diện tích sàn của nó không vượt quá một tỷ lệ nhất định so với diện tích sàn của tầng ngay bên dưới; tỷ lệ thường được nhắc tới trong quy chuẩn là 65%. Vượt ngưỡng đó, sàn ấy được coi như một tầng.
Tương tự, tầng tum thường không tính vào số tầng khi chỉ dùng để che cầu thang, thang máy, thiết bị kỹ thuật và có diện tích nhỏ so với sàn mái theo ngưỡng quy chuẩn. Tầng áp mái có thể được tính hoặc không tuỳ định nghĩa áp dụng. Quy chuẩn và quy định quản lý kiến trúc của địa phương có thể được sửa đổi, nên con số cụ thể cần đối chiếu văn bản hiện hành khi lập hồ sơ.
Lý do quy chuẩn phân biệt như vậy nằm ở rủi ro: một sàn trung gian nhỏ, mở ra không gian bên dưới, không làm tăng đáng kể số người trong nhà, tải trọng hay độ khó thoát nạn. Còn một sàn chiếm gần hết mặt bằng thì về bản chất đã là một tầng ở, kéo theo đầy đủ các yêu cầu về chiều cao, cầu thang, phòng cháy như các tầng khác. Ngưỡng diện tích là cách luật hoá ranh giới đó cho dễ áp dụng.
Câu hỏi "có tính là tầng không" chỉ là một nửa. Nửa còn lại là tầng lửng có được thể hiện trong giấy phép và bản vẽ hoàn công không. Một tầng lửng xây thêm không có trong hồ sơ có thể gây vướng khi cập nhật vào giấy chứng nhận, khi mua bán hoặc thế chấp, dù về mặt kỹ thuật nó không bị tính là tầng.
Những yêu cầu an toàn và tiện nghi thường bị xem nhẹ
Chiều cao thông thuỷ hai bên sàn. Chen một sàn vào giữa một tầng trệt không đủ cao sẽ tạo ra hai không gian thấp, bí, cả trên lẫn dưới. Chiều cao tối thiểu để sinh hoạt thoải mái là yếu tố kiến trúc cần tính trước, không phải chen được là chen.
Lan can phía hở. Mép tầng lửng nhìn xuống tầng dưới cần lan can đủ cao, đủ chắc, khe hở đủ hẹp để trẻ nhỏ không chui hoặc leo qua. Đây là chi tiết an toàn, không chỉ là trang trí.
Kết cấu đỡ tầng lửng. Tầng lửng làm thêm sau khi nhà đã xây thường gác lên tường, cột hiện có hoặc dùng khung thép riêng. Phải kiểm tra khả năng chịu lực của chỗ gác và móng, nhất là khi tầng lửng chứa hàng nặng.
Thông gió, chiếu sáng và thoát nạn. Tầng lửng sát trần dễ nóng, thiếu sáng. Nếu dùng làm chỗ ngủ, cần cân nhắc lối thoát khi có cháy, vì khói bốc lên và tích tụ ở chính vùng cao này trước tiên.
Ví dụ giả định: một cửa hàng nhà ống
Một gia đình có nhà ống tầng trệt cao khoảng gấp rưỡi tầng thường, dùng làm cửa hàng. Họ muốn làm tầng lửng ở nửa phía sau để làm văn phòng và kho, nửa phía trước để thông tầng cho cửa hàng thoáng. Phương án này giữ diện tích tầng lửng chỉ khoảng một nửa sàn tầng trệt.
Về khái niệm, đây là tầng lửng điển hình: sàn trung gian, nhỏ hơn sàn dưới, có cầu thang cố định, nhìn xuống không gian thông tầng. Nếu gia đình muốn mở rộng tầng lửng ra gần hết mặt bằng để có thêm chỗ ngủ, sàn ấy có thể vượt ngưỡng không tính tầng, khi đó nhà bị tính thêm một tầng so với giấy phép, kèm theo các yêu cầu về chiều cao, chỉ tiêu và thủ tục.
Ví dụ cho thấy cùng một ý tưởng "làm thêm gác lửng", chỉ một thay đổi về diện tích có thể chuyển nó từ một chi tiết nội thất sang một thay đổi về quy mô công trình. Người làm nhà nên trao đổi với kiến trúc sư và kiểm tra quy định trước khi quyết định.
Những hiểu lầm hay gặp
"Gác xép và tầng lửng là một." Gác xép là sàn phụ nhẹ, thường tạm, để đồ; tầng lửng là sàn kết cấu dùng thường xuyên. Khác nhau về kết cấu và về cách quy định áp dụng.
"Tum thì muốn xây bao nhiêu cũng được vì không tính tầng." Tum chỉ không tính tầng khi đáp ứng điều kiện về công năng và diện tích theo quy chuẩn. Xây tum to thành phòng ở là đang xây thêm tầng.
"Tầng lửng làm sau thì không cần xin phép." Tuỳ quy mô, kết cấu và quy định địa phương, việc làm thêm tầng lửng có thể thuộc diện phải xin phép hoặc phải cập nhật hồ sơ. Không nên mặc định là không cần.
"Tầng áp mái nào cũng ở được." Phần mái dốc thấp sát chân mái thường không đủ chiều cao để đứng; chỉ phần giữa dùng được. Tầng áp mái còn nóng hơn các tầng khác nếu mái không có lớp cách nhiệt.
Khái niệm liên quan
Thông tầng là phần không gian cao gấp đôi hoặc hơn thường đi kèm tầng lửng; mục từ giếng trời và thông tầng giải thích sự khác nhau giữa hai loại khoảng trống này. Chiều cao thông thuỷ là chiều cao từ mặt sàn hoàn thiện đến mặt dưới trần hoàn thiện, khác chiều cao tầng tính từ sàn đến sàn.
Tầng cao công trình, tầng hầm, bán hầm là các khái niệm quy hoạch, xây dựng dùng để tính số tầng và chiều cao; chúng có tài liệu sâu ở chuyên trang quy hoạch. Giấy phép xây dựng và bản vẽ hoàn công là nơi tầng lửng, tum được ghi nhận chính thức.
Trong chuyên mục này, mục từ vì kèo, xà gồ giải thích cấu tạo mái dốc bao quanh tầng áp mái, còn mục từ nhà tiền chế nói về khung thép, vật liệu hay dùng cho tầng lửng làm thêm.
Câu hỏi thường gặp
Tầng lửng có được ghi vào giấy chứng nhận không?
Diện tích sàn xây dựng, trong đó có tầng lửng nếu được cấp phép và hoàn công, có thể được thể hiện trong thông tin về nhà ở trên giấy chứng nhận. Tầng lửng xây thêm không có trong hồ sơ sẽ khó được ghi nhận nếu chưa làm thủ tục phù hợp.
Chiều cao tầng trệt bao nhiêu thì làm được tầng lửng?
Không có con số chung cho mọi nhà, vì phụ thuộc chiều dày sàn, chiều cao sử dụng mong muốn ở trên và dưới, và quy định chiều cao tầng của khu vực. Kiến trúc sư sẽ tính từ yêu cầu sử dụng cụ thể và quy định của địa phương.
Tầng lửng làm bằng khung thép có bền không?
Khung thép cho tầng lửng phổ biến vì nhẹ, thi công nhanh. Độ bền phụ thuộc tiết diện, liên kết, chống gỉ và chống cháy. Thép mất cường độ nhanh khi gặp nhiệt độ cao, nên với chỗ chứa hàng dễ cháy cần cân nhắc bảo vệ.
Tum có được dùng làm phòng giặt hoặc kho không?
Trên thực tế nhiều nhà bố trí thêm công năng nhỏ trong tum. Điều cần lưu ý là diện tích và công năng phải nằm trong phạm vi được phép theo quy chuẩn và giấy phép, để tum vẫn không bị tính thành một tầng.
Tầng lửng trong căn hộ chung cư thông tầng có giống nhà phố không?
Căn hộ thông tầng có sàn thứ hai bên trong căn do chủ đầu tư thiết kế từ đầu, đã nằm trong hồ sơ toà nhà. Người mua không được tự làm thêm sàn lửng trong căn hộ thông thường vì ảnh hưởng kết cấu và quy định quản lý toà nhà.