WikiNhaDat.comWiki Nhà Đất
Tài chính, thuế và phí nhà đất

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là gì? Vì sao luật vẫn còn mà phần lớn đang được miễn

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là thuế hằng năm đối với đất sản xuất nông nghiệp, tính bằng thóc theo hạng đất. Lịch sử, cách tính và vì sao phần lớn đang được miễn.

Top-down drone shot of a mosaic of small rice paddies, a fish pond and a fruit orchard divided by narrow dikes, two farmers bending in the water, soft overcast light

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là thuế hằng năm mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp phải nộp, được tính bằng một số kilôgam thóc trên mỗi đơn vị diện tích theo hạng đất, rồi quy ra tiền. Thuế được quy định trong Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993.

Điều đặc biệt là từ năm 2003 đến nay, phần lớn diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được miễn hoặc giảm thuế này theo các nghị quyết của Quốc hội, được gia hạn nhiều lần. Vì vậy nhiều người làm ruộng cả đời chưa từng nộp, và câu hỏi “đất nông nghiệp có phải nộp thuế không” thường nhận câu trả lời “có luật, nhưng đang được miễn”.

Mục từ giải thích khái niệm, nguồn gốc lịch sử, cách tính theo hạng đất, chính sách miễn giảm và những trường hợp vẫn phải nộp, cùng các hiểu lầm hay gặp. Thời hạn miễn và đối tượng cụ thể phụ thuộc nghị quyết đang có hiệu lực; khi cần áp dụng, nên kiểm văn bản mới nhất.

Định nghĩa và cơ chế tính thuế

Thuế sử dụng đất nông nghiệp đánh vào việc sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp: đất trồng cây hằng năm, cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất rừng trồng. Người nộp là người đang sử dụng đất, không phân biệt đã có giấy chứng nhận hay chưa.

Cơ sở tính thuế gồm ba yếu tố: diện tích đất chịu thuế, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên mỗi hecta tương ứng với từng hạng. Đất trồng cây hằng năm và mặt nước nuôi trồng được chia thành nhiều hạng dựa trên chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu và điều kiện tưới tiêu; đất trồng cây lâu năm có thang hạng riêng. Hạng đất tốt hơn có định suất cao hơn.

Số thóc phải nộp được quy ra tiền theo giá thóc thu thuế do Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố. Cách tính bằng thóc phản ánh thời điểm ra đời của sắc thuế: khi đó sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa và thuế thực sự từng được nộp bằng hiện vật. Ngày nay quy ra tiền là cách thu phổ biến.

Nguồn gốc lịch sử

Thuế ruộng đất thời phong kiến và thuộc địa. Thuế đánh vào ruộng đất theo diện tích và hạng ruộng có từ các triều đại phong kiến, gắn với sổ địa bạ. Thời Pháp thuộc có thuế điền thổ. Ý tưởng phân hạng ruộng để tính thuế vì vậy có truyền thống lâu đời.

Thuế nông nghiệp sau năm 1945. Thuế nông nghiệp được đặt ra từ những năm đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thu chủ yếu bằng thóc, và được điều chỉnh qua nhiều văn bản trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp. Đến thập niên 1980, thuế nông nghiệp được quy định bằng pháp lệnh.

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993. Cùng năm Luật Đất đai 1993 giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình và thừa nhận các quyền chuyển nhượng, Quốc hội ban hành luật thuế này, chuyển từ “thuế nông nghiệp” đánh vào sản lượng sang “thuế sử dụng đất”, gắn nghĩa vụ thuế với việc được Nhà nước giao quyền sử dụng đất.

Từ năm 2003: chính sách miễn, giảm diện rộng. Quốc hội ban hành nghị quyết miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho giai đoạn từ năm 2003, sau đó các nghị quyết tiếp theo kéo dài và mở rộng diện miễn, đặc biệt cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất trong hạn mức. Việc gia hạn nhiều lần khiến chính sách miễn trở thành trạng thái quen thuộc suốt hơn hai thập kỷ.

Phân biệt với các khoản nộp khác trên đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp có thể gắn với nhiều khoản nộp khác nhau. Bảng dưới đây tách bản chất từng khoản để tránh nhầm.

KhoảnBản chấtTình trạng phổ biến hiện nay
Thuế sử dụng đất nông nghiệpThuế hằng năm trên đất sản xuất nông nghiệpPhần lớn hộ gia đình, cá nhân được miễn theo nghị quyết
Tiền thuê đất nông nghiệpTiền thuê quyền sử dụng đất của Nhà nướcÁp dụng khi thuê đất của Nhà nước, như đất vượt hạn mức hay đất của tổ chức
Tiền thuê đất công ích của xãTiền thuê quỹ đất nông nghiệp công ích do cấp xã quản lýNgười thuê nộp theo hợp đồng với xã
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệpThuế hằng năm trên đất ở, đất sản xuất kinh doanhKhông áp dụng cho đất nông nghiệp
Thuỷ lợi phí, giá dịch vụ thuỷ lợiGiá dịch vụ tưới tiêuKhông phải thuế; có chính sách hỗ trợ riêng

Nhầm lẫn hay gặp là cho rằng “được miễn thuế đất nông nghiệp” đồng nghĩa với “không phải trả gì cho đất nông nghiệp”. Người thuê đất công ích hay thuê đất của Nhà nước vẫn trả tiền thuê dù thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn.

Ví dụ giả định: thuế của một hộ nếu không được miễn

Để thấy cơ chế tính bằng thóc vận hành ra sao, xét một ví dụ giả định với các con số tự đặt, không phải định suất thật. Hộ ông H sử dụng 1 hecta đất trồng lúa hai vụ, được xếp vào một hạng có định suất giả định là 400 kilôgam thóc mỗi hecta mỗi năm, và 0,5 hecta đất trồng cây lâu năm ở hạng có định suất giả định 300 kilôgam thóc mỗi hecta.

Số thóc thuế là 1 × 400 + 0,5 × 300 = 550 kilôgam mỗi năm. Nếu giá thóc thu thuế do tỉnh công bố, giả định, là 7.000 đồng mỗi kilôgam, số tiền thuế quy đổi là 3.850.000 đồng mỗi năm. Trong thời gian nghị quyết miễn thuế áp dụng cho hộ gia đình sản xuất trong hạn mức, ông H không phải nộp khoản này.

Ví dụ cũng cho thấy đặc điểm của sắc thuế: số thuế gắn với hạng đất và giá thóc, không gắn với giá trị thị trường của thửa đất. Một hecta lúa ở vùng ven đô có thể có giá chuyển nhượng gấp hàng chục lần một hecta cùng hạng ở vùng xa, nhưng số thóc thuế giống nhau. Đây là điểm khác căn bản với thuế tài sản tính theo giá trị.

Ai vẫn phải nộp và ai được miễn

Diện được miễn rộng nhất. Theo các nghị quyết miễn giảm, hộ gia đình, cá nhân được giao hoặc công nhận đất sản xuất nông nghiệp trong hạn mức, cùng nhiều nhóm như đất của hộ nghèo, đất trồng cây hằng năm có ít nhất một vụ lúa, đất làm muối, được miễn thuế. Phạm vi cụ thể được mở rộng dần qua các lần sửa đổi nghị quyết.

Diện thường không được miễn. Tổ chức đang quản lý đất nông nghiệp nhưng không trực tiếp sử dụng mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng thường không thuộc diện miễn; phần diện tích vượt hạn mức có thể không được miễn hoặc chuyển sang chế độ thuê đất. Chi tiết cần đối chiếu nghị quyết đang có hiệu lực.

Được miễn vẫn có thể phải kê khai. Miễn thuế là cơ quan thuế không thu, nhưng thông tin diện tích, hạng đất vẫn có thể được quản lý trong sổ thuế. Khi chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế đất nông nghiệp, các thông tin này có thể được kiểm tra lại.

Thời hạn miễn phụ thuộc nghị quyết. Mỗi nghị quyết có thời hạn áp dụng. Khi một nghị quyết sắp hết hạn, Quốc hội xem xét gia hạn hoặc thay đổi. Vì vậy câu trả lời “đang được miễn” luôn cần kèm câu hỏi “theo nghị quyết nào, đến năm nào”.

Tranh luận chung quanh sắc thuế đang được miễn

Một sắc thuế được miễn cho đa số đối tượng trong hơn hai mươi năm đặt ra câu hỏi: nên bãi bỏ luật, hay giữ luật làm khung pháp lý? Lập luận giữ luật cho rằng thuế là công cụ có thể dùng lại khi cần điều tiết, ví dụ đánh vào đất nông nghiệp bị bỏ hoang, đất được tích tụ quy mô lớn, hoặc đất của tổ chức không trực tiếp sản xuất. Bỏ luật thì mất công cụ đó.

Lập luận ủng hộ thay đổi cho rằng định suất thuế bằng thóc theo hạng đất được xác lập từ đầu thập niên 1990 không còn phản ánh giá trị và hiệu quả sử dụng đất hiện nay, khi đất nông nghiệp ven đô có giá trị gấp nhiều lần đất cùng hạng ở vùng sâu. Nếu muốn dùng thuế để điều tiết, cơ sở tính cần được thiết kế lại.

Ở góc độ chính sách nông nghiệp, việc miễn thuế được xem là một hình thức hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất nhỏ, giảm chi phí và khuyến khích giữ đất canh tác. Đây là mục tiêu chính sách, không phải kết luận kinh tế học duy nhất; các nghiên cứu về tác động thực của việc miễn thuế lên thu nhập và năng suất cho kết quả khác nhau tuỳ vùng.

Hiểu lầm và khái niệm liên quan

Hiểu lầm: thuế đã bị bãi bỏ. Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp vẫn còn hiệu lực; cái thay đổi là các nghị quyết miễn, giảm. Khi nghị quyết hết hạn mà không được gia hạn, nghĩa vụ thuế có thể quay lại theo luật.

Hiểu lầm: được miễn thuế nghĩa là đất không có giá trị pháp lý. Miễn thuế không ảnh hưởng quyền sử dụng đất. Đất nông nghiệp vẫn được chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp theo điều kiện của Luật Đất đai.

Khái niệm liên quan: hạng đất. Phân hạng đất tính thuế là việc xếp thửa đất vào hạng dựa trên chất đất, vị trí, địa hình, khí hậu, tưới tiêu. Hạng đất tính thuế khác với loại đất trong phân loại của Luật Đất đai.

Khái niệm liên quan: đất công ích. Quỹ đất nông nghiệp dự phòng do cấp xã quản lý, cho thuê để sử dụng vào mục đích nông nghiệp hoặc xây dựng công trình công cộng; tiền thuê là nguồn thu của xã, không phải thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Đất trồng cây lâu năm có thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp không?

Có. Đất trồng cây lâu năm là một trong các loại đất chịu thuế theo luật, với thang hạng đất và định suất riêng. Trong thời gian các nghị quyết miễn, giảm có hiệu lực, hộ gia đình, cá nhân sử dụng trong hạn mức thường thuộc diện được miễn như các loại đất nông nghiệp khác.

Đất nông nghiệp trong khu dân cư có nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp không?

Đất vườn, ao trong cùng thửa có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở vẫn là đất nông nghiệp, thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp về nguyên tắc và hưởng chính sách miễn giảm như các đất nông nghiệp khác. Phần đất ở trong thửa đó chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Giá thóc dùng để quy đổi thuế lấy ở đâu?

Giá thóc thu thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, thường căn cứ giá thóc trên thị trường địa phương ở vụ thu hoạch. Mỗi tỉnh có mức riêng và có thể điều chỉnh theo năm. Khi thuế được miễn, giá thóc này ít được quan tâm nhưng vẫn là căn cứ pháp lý của cách tính.

Bỏ hoang đất nông nghiệp có bị đánh thuế cao hơn không?

Theo nguyên tắc của luật, người được giao đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn thuộc diện chịu thuế như đất đang sử dụng, nhưng không có thuế suất cao hơn dành riêng cho đất bỏ hoang. Việc không sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian dài được Luật Đất đai xử lý bằng các biện pháp quản lý, có thể dẫn tới thu hồi đất theo điều kiện luật định.

Doanh nghiệp nông nghiệp có được miễn thuế này không?

Tuỳ trường hợp. Doanh nghiệp thuê đất của Nhà nước để sản xuất nông nghiệp nộp tiền thuê đất. Các nghị quyết miễn, giảm có quy định riêng cho tổ chức trực tiếp sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, khác với tổ chức giao khoán cho người khác. Doanh nghiệp nên đối chiếu nghị quyết đang có hiệu lực và hỏi cơ quan thuế quản lý.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.