WikiNhaDat.comWiki Nhà Đất
Tài chính, thuế và phí nhà đất

Giá đất là gì? Phân biệt giá Nhà nước, thị trường, thẩm định và giá trên hợp đồng

Giá đất là giá trị quyền sử dụng đất tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích. Bốn con số người ta cùng gọi là giá đất, mỗi con số đến từ đâu và dùng vào việc gì.

Aerial view at golden hour of a town edge where tidy rows of new house plots meet older rooftops and rice fields, long shadows, warm amber haze

Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích, thường là đồng trên mét vuông. Ở Việt Nam, vì đất thuộc sở hữu toàn dân, thứ được định giá và mua bán là quyền sử dụng đất chứ không phải bản thân mảnh đất; Luật Đất đai dùng đúng cách hiểu đó khi định nghĩa giá đất.

Rắc rối nằm ở chỗ cùng một thửa đất có thể có ít nhất bốn con số đều được gọi là “giá đất”: giá trong bảng giá do tỉnh ban hành, giá thị trường mà người mua người bán chốt với nhau, giá do tổ chức thẩm định đưa ra trong chứng thư, và giá ghi trên hợp đồng công chứng. Bốn con số này sinh ra cho bốn mục đích khác nhau và hiếm khi bằng nhau.

Mục từ này giải thích khái niệm giá đất, nguồn gốc của nó trong pháp luật Việt Nam, rồi phân biệt bốn loại giá bằng bảng và ví dụ giả định. Cách tính, phương pháp định giá cụ thể thuộc về chuyên ngành định giá và không được nhắc lại chi tiết ở đây.

Định nghĩa và bản chất kinh tế

Trong kinh tế học, giá của đất phản ánh dòng lợi ích mà mảnh đất mang lại trong tương lai: tiền thuê thu được, công năng sử dụng, khả năng phát triển. Đất không do ai sản xuất ra, tổng cung gần như cố định, nên giá đất chủ yếu do cầu và vị trí quyết định. Hai thửa đất cùng diện tích, cùng loại đất, cách nhau vài trăm mét có thể chênh giá nhiều lần chỉ vì một thửa nằm mặt đường lớn còn thửa kia ở cuối hẻm.

Luật Đất đai Việt Nam định nghĩa giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất, và giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích xác định trong thời hạn sử dụng xác định. Hai định nghĩa cho thấy giá đất luôn gắn với thời hạn: đất ở lâu dài và đất thuê năm mươi năm cùng vị trí không thể có cùng giá.

Điểm then chốt để đọc phần sau: giá đất là một ước lượng về giá trị, không phải một thuộc tính vật lý của mảnh đất. Ai ước lượng, ước lượng để làm gì, tại thời điểm nào sẽ cho ra con số khác nhau.

Nguồn gốc: từ đất không có giá đến nhiều loại giá

Luật Đất đai 1987 coi đất không phải hàng hoá, nên về lý thuyết không có giá đất. Khi Luật Đất đai 1993 thừa nhận quyền chuyển nhượng, Nhà nước cần một mức giá để tính thuế, tính tiền khi giao đất và tính bồi thường khi thu hồi. Từ đó xuất hiện khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất do tỉnh ban hành, đồng thời giá giao dịch trên thị trường vẫn tồn tại song song.

Luật Đất đai 2003 đưa ra nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định phải sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. Luật Đất đai 2013 thêm khái niệm giá đất cụ thể cho từng trường hợp. Luật Đất đai 2024 bỏ khung giá đất của Chính phủ, chuyển bảng giá đất sang ban hành hằng năm và đặt nguyên tắc định giá theo phương pháp, phù hợp với thị trường. Cơ chế giá đất vẫn đang được điều chỉnh qua các văn bản mới, nên khi cần áp dụng phải kiểm văn bản hiện hành. Sự tồn tại song song của giá nhà nước và giá thị trường là đặc điểm của hệ thống Việt Nam từ đầu thập niên 1990 tới nay.

Ở chiều thị trường, nghề thẩm định giá phát triển cùng với tín dụng ngân hàng và giao dịch doanh nghiệp, tạo ra loại giá thứ ba là giá thẩm định. Còn giá ghi trên hợp đồng là sản phẩm của chính giao dịch, và vì nó gắn với nghĩa vụ thuế nên đôi khi không trùng với số tiền thật sự trao tay.

Bốn loại “giá đất” hay bị nói lẫn

Bảng dưới đây so sánh bốn loại giá theo nguồn gốc, người xác định và mục đích sử dụng. Đây là phân loại theo cách hiểu phổ biến; trong văn bản pháp luật, “giá đất do Nhà nước quy định” lại gồm cả bảng giá đất và giá đất cụ thể.

Loại giáAi xác địnhDùng để làm gìĐặc điểm
Giá trong bảng giá đấtUỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết địnhTính thuế, phí, tiền sử dụng đất trong các trường hợp luật quy địnhÁp cho hàng loạt thửa theo vị trí, tuyến đường; thay đổi theo kỳ ban hành
Giá đất cụ thểUỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định trên cơ sở định giáTính tiền bồi thường, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong các trường hợp luật quy địnhXác định cho từng dự án, từng trường hợp, tại một thời điểm
Giá thị trườngNgười mua và người bánMua bán thậtPhụ thuộc thời điểm, thông tin, sức ép của hai bên; không có một con số duy nhất
Giá thẩm địnhThẩm định viên về giáThế chấp, góp vốn, chia tài sản, giải quyết tranh chấp, báo cáo tài chínhƯớc lượng giá trị theo tiêu chuẩn thẩm định, kèm thời điểm và mục đích
Giá ghi trên hợp đồngHai bên giao dịch tự ghiCăn cứ pháp lý của giao dịch, căn cứ tính thuế khi không thấp hơn giá nhà nướcCó thể khác giá thực trả nếu bên ghi khai thấp

Bảng có năm dòng vì “giá nhà nước” tách thành hai. Trong lời nói hằng ngày, “giá nhà nước” thường chỉ giá trong bảng giá đất; còn trong tranh chấp bồi thường, thứ người ta tranh luận lại là giá đất cụ thể.

Vì sao các loại giá hiếm khi bằng nhau

Khác mục đích thì khác cách ước lượng. Bảng giá đất phải phủ hàng trăm nghìn thửa nên dùng phương pháp định giá hàng loạt, chấp nhận sai số với từng thửa. Giá thẩm định chỉ nhắm một tài sản, có khảo sát thực địa. Giá thị trường là kết quả mặc cả của hai con người cụ thể. Ba quá trình khác nhau tất yếu cho ra ba con số khác nhau.

Khác thời điểm. Bảng giá được ban hành theo kỳ, giá thị trường thay đổi liên tục. Ở khu vực giá biến động nhanh, khoảng cách giữa bảng giá và thị trường có thể mở rộng chỉ sau vài tháng, rồi thu hẹp khi bảng giá mới được điều chỉnh.

Khác động cơ. Người bán muốn giá cao, người mua muốn giá thấp, tổ chức thẩm định cho ngân hàng có xu hướng thận trọng, cơ quan ban hành bảng giá phải cân nhắc tác động đến nghĩa vụ tài chính của người dân. Giá ghi trên hợp đồng chịu thêm động cơ giảm thuế. Không có loại giá nào hoàn toàn “trung tính”.

Khác đối tượng định giá. Giá thị trường của một căn nhà gộp cả đất và công trình; bảng giá đất chỉ định giá đất. Đem giá bán một căn nhà chia cho diện tích đất rồi so với bảng giá là so hai thứ khác nhau.

Ví dụ giả định: một thửa đất, năm con số

Giả sử một thửa đất ở 80 mét vuông trong hẻm ô tô ở một thành phố. Trong ví dụ giả định này, bảng giá đất áp cho vị trí hẻm đó là 40 triệu đồng mỗi mét vuông. Một dự án gần đó bị thu hồi đất, giá đất cụ thể để bồi thường cho vị trí tương tự được quyết định ở mức 60 triệu. Các giao dịch gần đây trong hẻm cho thấy người mua sẵn sàng trả quanh 90 đến 100 triệu. Chủ đất đem thế chấp, chứng thư thẩm định cho ngân hàng ghi 85 triệu. Khi bán, hai bên ghi hợp đồng theo đúng số tiền thực trả là 95 triệu.

Không có con số nào trong năm con số trên là “sai”. Mỗi con số trả lời một câu hỏi khác: Nhà nước dùng mức nào để tính thuế phí hàng loạt, bồi thường bao nhiêu cho dự án cụ thể, thị trường đang trả bao nhiêu, ngân hàng có thể tin vào giá trị nào khi phải xử lý tài sản, và hai bên đã thực sự thoả thuận bao nhiêu.

Sai chỉ xảy ra khi dùng một con số để trả lời câu hỏi của con số khác, chẳng hạn lấy giá trong bảng giá để kết luận thửa đất “chỉ đáng” 3,2 tỷ, hoặc lấy giá chào bán của người đăng tin để tính bồi thường.

Hiểu lầm thường gặp

“Giá nhà nước thấp nên vô nghĩa.” Bảng giá đất là căn cứ tính rất nhiều khoản nghĩa vụ tài chính và là mức sàn khi cơ quan thuế xét giá tính thuế. Thay đổi bảng giá đất tác động trực tiếp đến số tiền hàng triệu hộ phải nộp, nên nó có ý nghĩa thực tế lớn dù không phản ánh đúng giá mua bán.

“Giá thị trường là giá đăng trên mạng.” Tin rao là giá chào, thường cao hơn giá chốt. Giá thị trường theo nghĩa thẩm định là mức giá ước tính mà tài sản được giao dịch giữa người mua và người bán sẵn lòng, có đủ thông tin, không bị ép buộc, tại một thời điểm. Một tin rao không thoả các điều kiện đó.

“Giá thẩm định là giá chắc chắn bán được.” Chứng thư thẩm định ghi rõ mục đích và thời điểm thẩm định. Giá thẩm định để thế chấp thường thận trọng; giá thẩm định không cam kết rằng tài sản sẽ bán được đúng mức đó.

“Ghi hợp đồng thấp chỉ là chuyện thuế.” Giá ghi trên hợp đồng là căn cứ pháp lý khi tranh chấp, khi huỷ giao dịch, khi chia tài sản. Ghi thấp hơn thực trả có thể khiến người mua chỉ đòi lại được số tiền trên giấy khi có tranh chấp.

Khái niệm liên quan

Các mục từ gần với khái niệm giá đất:

  • Bảng giá đất: văn bản do tỉnh ban hành quy định giá theo vị trí, tuyến đường, loại đất, dùng cho các mục đích luật định.
  • Giá đất cụ thể: giá do cơ quan có thẩm quyền quyết định cho từng trường hợp, từng dự án tại một thời điểm.
  • Giá trị quyền sử dụng đất: tổng giá trị bằng tiền của quyền sử dụng một diện tích đất trong thời hạn xác định, bằng giá đất nhân diện tích.
  • Giá chào và giá giao dịch: khoảng cách giữa mức người bán đưa ra và mức thực sự chốt.
  • Địa tô: cơ sở kinh tế học giải thích vì sao đất có giá dù không do ai làm ra.
  • Hợp đồng hai giá: hiện tượng ghi giá trên hợp đồng thấp hơn giá thực trả và hệ quả pháp lý của nó.

Câu hỏi thường gặp

Giá đất trên sổ đỏ có phải giá đất không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi giá đất. Nhiều người nhầm với số tiền ghi trên thông báo thuế hoặc tờ khai lệ phí trước bạ kèm hồ sơ. Những con số đó là giá tính nghĩa vụ tài chính tại thời điểm làm thủ tục, không phải giá đất của thửa đất ở hiện tại.

Giá đất trong bảng giá có giống nhau trên cùng một tuyến đường không?

Bảng giá thường chia một tuyến đường thành các đoạn và chia vị trí theo khoảng cách hoặc độ rộng hẻm, nên cùng một con đường có thể có nhiều mức. Luật Đất đai 2024 còn cho phép xây dựng bảng giá theo vùng giá trị và thửa đất chuẩn ở nơi có bản đồ địa chính số, làm mức giá chi tiết hơn.

Giá đất nông nghiệp trong bảng giá có tăng khi đất được quy hoạch thành đất ở không?

Bảng giá áp theo loại đất hiện trạng được ghi nhận, không theo loại đất trong quy hoạch. Đất nông nghiệp nằm trong quy hoạch đất ở vẫn tính theo giá đất nông nghiệp cho tới khi được chuyển mục đích. Thị trường thì thường đã phản ánh kỳ vọng quy hoạch vào giá mua bán từ trước.

Ai được làm thẩm định giá đất?

Thẩm định giá là nghề có điều kiện; chứng thư thẩm định do doanh nghiệp thẩm định giá phát hành và thẩm định viên có thẻ hành nghề ký. Với giá đất cụ thể của Nhà nước, tổ chức tư vấn xác định giá đất phải đáp ứng điều kiện riêng theo pháp luật đất đai. Danh sách tổ chức đủ điều kiện được công bố công khai.

Giá thị trường có phải lúc nào cũng cao hơn bảng giá không?

Không nhất thiết. Ở đa số khu đô thị đông dân, giá giao dịch thường cao hơn bảng giá, nhưng ở vùng giá đang đi xuống, khu vực ít giao dịch hoặc thửa đất có khiếm khuyết như không có lối đi, hình thể xấu, giá chốt thực tế có thể gần bằng hoặc thấp hơn mức trong bảng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.