WikiNhaDat.comWiki Nhà Đất
Tài chính, thuế và phí nhà đất

Thuế, phí và lệ phí khác nhau thế nào? Giải thích qua các khoản tiền nhà đất

Thuế là khoản bắt buộc không gắn với dịch vụ cụ thể, phí bù chi phí một dịch vụ công, lệ phí gắn với một việc quản lý nhà nước. Ví dụ qua các khoản nhà đất.

Over-the-shoulder view of a woman waiting on a wooden bench in a bright government service hall, rows of empty counters, soft daylight through tall windows, faces unseen

Thuế là khoản nộp bắt buộc cho ngân sách nhà nước, không gắn với một dịch vụ cụ thể mà người nộp được nhận lại; phí là khoản tiền trả để bù đắp chi phí khi được cung cấp một dịch vụ công; lệ phí là khoản tiền ấn định khi cơ quan nhà nước thực hiện một công việc quản lý nhà nước cho mình. Ba khái niệm này cùng là khoản thu của Nhà nước nhưng khác nhau ở lý do thu, cơ sở pháp lý và cách xác định mức thu.

Trong lĩnh vực nhà đất, ba loại đi cạnh nhau rất thường: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng là thuế; phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận là phí; lệ phí trước bạ và lệ phí cấp giấy chứng nhận là lệ phí. Người ta hay nói chung “thuế phí”, nhưng mỗi loại do văn bản khác điều chỉnh và có cơ quan quyết định mức khác nhau.

Mục từ này giải thích định nghĩa của từng loại, nguồn gốc của sự phân biệt, bảng so sánh, các ví dụ trong nhà đất và vài trường hợp “tên một đằng, bản chất một nẻo” như lệ phí trước bạ.

Định nghĩa của từng khái niệm

Thuế là khoản nộp bắt buộc do luật quy định, người nộp không được hưởng một dịch vụ tương ứng trực tiếp. Nộp thuế sử dụng đất không có nghĩa là Nhà nước làm một việc cụ thể nào cho thửa đất của bạn; tiền thuế vào ngân sách chung để chi cho các nhiệm vụ của Nhà nước. Ở Việt Nam, mỗi sắc thuế do một luật của Quốc hội quy định (hoặc trước đây là pháp lệnh), thuế suất cũng do luật hoặc văn bản được luật giao quy định.

Phí, theo Luật Phí và lệ phí năm 2015, là khoản tiền tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc tổ chức được giao cung cấp dịch vụ công. Từ khoá ở đây là “bù đắp chi phí” và “phục vụ”: phí gắn với một dịch vụ cụ thể và về nguyên tắc mức phí phải tương xứng với chi phí làm dịch vụ đó.

Lệ phí, cũng theo luật này, là khoản tiền được ấn định khi tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công phục vụ công việc quản lý nhà nước. Lệ phí không nhằm bù chi phí mà là khoản thu gắn với một hành vi quản lý: cấp giấy, đăng ký, công nhận. Mức lệ phí được ấn định, không nhất thiết tương xứng với chi phí thực tế.

Nguồn gốc của sự phân biệt

Phân biệt thuế với phí và lệ phí có từ lâu trong lý thuyết tài chính công. Thuế dựa trên nguyên tắc nghĩa vụ chung: ai thuộc diện chịu thuế thì nộp, không cần đổi lấy gì. Phí dựa trên nguyên tắc lợi ích: ai dùng dịch vụ thì trả cho dịch vụ đó. Lệ phí nằm giữa hai đầu: người nộp có nhận một việc cụ thể (được cấp một giấy, được ghi tên vào sổ đăng ký), nhưng việc đó trước hết phục vụ chức năng quản lý của Nhà nước.

Ở Việt Nam, trước khi có Luật Phí và lệ phí, phí và lệ phí được quy định bằng Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 và rất nhiều văn bản dưới luật; danh mục từng phình ra với hàng trăm khoản, một số khoản thực chất là thu theo dịch vụ chứ không phải dịch vụ công. Luật Phí và lệ phí 2015, hiệu lực từ đầu năm 2017, rà lại danh mục, chuyển một số khoản sang cơ chế giá dịch vụ, và giao thẩm quyền quyết định mức thu rõ hơn giữa Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Hệ quả trực tiếp với nhà đất: nhiều khoản phí, lệ phí liên quan đến đất do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định mức thu trong khung, nên cùng một thủ tục ở hai tỉnh khác nhau có thể có mức thu khác nhau. Thuế thì thống nhất trên cả nước theo luật thuế.

Bảng so sánh thuế, phí và lệ phí

Bảng dưới đây so sánh ba khái niệm theo các tiêu chí thường dùng trong sách tài chính công và trong văn bản pháp luật Việt Nam.

Tiêu chíThuếPhíLệ phí
Lý do thuNghĩa vụ chung với ngân sáchBù đắp chi phí một dịch vụ côngGắn với một việc quản lý nhà nước
Có dịch vụ đổi lại khôngKhông có dịch vụ tương ứng trực tiếpCó, dịch vụ cụ thểCó một việc cụ thể (cấp, đăng ký)
Văn bản gốcLuật thuế riêng cho từng sắc thuếLuật Phí và lệ phí và văn bản hướng dẫnLuật Phí và lệ phí và văn bản hướng dẫn
Cách xác định mứcThuế suất trên cơ sở tính thuếTheo chi phí, trong khung được giaoẤn định, không cần tương xứng chi phí
Người thuCơ quan thuếĐơn vị cung cấp dịch vụ, có thể được giữ lại một phầnCơ quan nhà nước, nộp toàn bộ vào ngân sách
Ví dụ nhà đấtThuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượngPhí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận, phí khai thác thông tin đất đaiLệ phí trước bạ, lệ phí cấp giấy chứng nhận

Một chi tiết hay bị bỏ qua là cột “người thu”. Với phí, đơn vị cung cấp dịch vụ có thể được để lại một phần số thu để trang trải chi phí theo quy định; với lệ phí, toàn bộ số thu phải nộp ngân sách. Đây là hệ quả trực tiếp của việc phí bù chi phí còn lệ phí là khoản thu quản lý.

Các trường hợp “tên một đằng, bản chất một nẻo”

Lệ phí trước bạ tính theo phần trăm giá trị tài sản. Thông thường lệ phí là một số tiền cố định cho một việc. Lệ phí trước bạ lại tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị nhà, đất, nên số tiền có thể khá lớn và trông giống thuế. Về pháp lý nó vẫn là lệ phí, gắn với việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản với Nhà nước; trong lời nói hằng ngày và tài liệu cũ, người ta vẫn hay gọi nó là “thuế trước bạ”.

Tiền sử dụng đất không phải thuế, phí hay lệ phí. Đây là giá của quyền sử dụng đất mà Nhà nước, với tư cách đại diện chủ sở hữu, trao cho người sử dụng. Nó được thu theo Luật Đất đai và nghị định về thu tiền sử dụng đất, không theo luật thuế hay Luật Phí và lệ phí. Gọi nó là “thuế” là gọi theo thói quen.

Phí công chứng là phí nhưng người thu không phải cơ quan nhà nước. Văn phòng công chứng là tổ chức hành nghề, nhưng khoản phí công chứng hợp đồng vẫn nằm trong danh mục phí do Nhà nước quy định mức, vì công chứng là dịch vụ công được giao cho tổ chức ngoài nhà nước thực hiện. Ngoài phí công chứng, tổ chức công chứng còn có thể thu thù lao cho các việc như soạn thảo, đánh máy theo mức họ niêm yết.

Phí quản lý chung cư không phải phí theo Luật Phí và lệ phí. Đây là giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư, thoả thuận giữa cư dân và đơn vị quản lý trong khung giá do địa phương ban hành. Chữ “phí” ở đây là cách gọi thông thường, không phải khoản thu của Nhà nước.

Ví dụ giả định: một lần sang tên có những khoản nào

Giả sử anh C mua một căn nhà riêng lẻ của chị D. Ví dụ giả định này không nêu mức thu, chỉ xếp các khoản vào đúng loại. Bên bán có nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng, nếu không thuộc trường hợp miễn: đây là thuế, cơ quan thuế tính và thu, chị D không nhận dịch vụ nào đổi lại.

Khi hai bên ký hợp đồng tại văn phòng công chứng, họ trả phí công chứng tính theo giá trị hợp đồng trong khung Nhà nước quy định. Khi nộp hồ sơ đăng ký biến động, anh C có thể phải trả phí thẩm định hồ sơ (phí, do tỉnh quy định) và lệ phí cấp giấy chứng nhận nếu được cấp giấy mới (lệ phí). Cuối cùng anh C nộp lệ phí trước bạ tính theo tỷ lệ trên giá trị nhà đất, là khoản lớn nhất trong nhóm lệ phí.

Nếu đem so số tiền, thuế thu nhập và lệ phí trước bạ thường là hai khoản đáng kể, còn các khoản phí và lệ phí thủ tục nhỏ hơn nhiều. Nhưng về loại, bốn khoản trên rơi vào cả ba nhóm. Hiểu đúng nhóm giúp anh C biết hỏi ai khi thấy số tiền bất thường: thắc mắc về thuế hỏi cơ quan thuế, thắc mắc về phí thẩm định hỏi nơi nhận hồ sơ và tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Hiểu lầm và khái niệm liên quan

Hiểu lầm: phí và lệ phí là “tiền thủ tục” nên không có căn cứ pháp lý chặt. Mỗi khoản phí, lệ phí phải nằm trong danh mục của Luật Phí và lệ phí và có văn bản quy định mức thu. Khoản thu không có trong danh mục là khoản thu không có căn cứ; người nộp có quyền đề nghị nơi thu chỉ ra văn bản.

Hiểu lầm: được miễn thuế thì cũng được miễn lệ phí. Miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng giữa người thân không tự động kéo theo miễn lệ phí trước bạ; mỗi loại có danh mục miễn riêng trong văn bản riêng. Có trường hợp được miễn cả hai, có trường hợp chỉ được một.

Khái niệm liên quan: giá dịch vụ. Một số khoản trước đây là phí đã chuyển sang cơ chế giá dịch vụ theo Luật Giá, ví dụ dịch vụ đo đạc, trích đo theo yêu cầu. Giá dịch vụ do thị trường hoặc khung giá điều chỉnh, không phải khoản thu ngân sách theo Luật Phí và lệ phí.

Khái niệm liên quan: khoản thu ngân sách từ đất. Trong báo cáo ngân sách, “thu từ đất” thường gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và thuế sử dụng đất; lệ phí trước bạ và thuế thu nhập từ chuyển nhượng thường được thống kê ở dòng khác. Khi đọc số liệu ngân sách, cần xem định nghĩa của từng dòng trước khi so sánh.

Câu hỏi thường gặp

Lệ phí trước bạ có được khấu trừ như thuế không?

Với cá nhân mua nhà để ở, lệ phí trước bạ là khoản đã nộp và không được khấu trừ vào thuế khác. Với doanh nghiệp, lệ phí trước bạ thường được tính vào nguyên giá tài sản theo chế độ kế toán, sau đó phân bổ qua khấu hao nếu tài sản thuộc diện khấu hao. Chi tiết hạch toán nên hỏi kế toán theo chuẩn mực doanh nghiệp đang áp dụng.

Ai quyết định mức phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận?

Theo Luật Phí và lệ phí, nhiều khoản phí trong lĩnh vực đất đai được giao cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức thu, trong khuôn khổ hướng dẫn của Bộ Tài chính. Vì vậy mức phí khác nhau giữa các tỉnh. Muốn biết mức đang áp dụng, cần tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh nơi có đất.

Vì sao thuế phải do luật quy định còn phí có thể do tỉnh quy định?

Thuế là nghĩa vụ bắt buộc không đổi lấy dịch vụ, chạm thẳng vào tài sản của người dân, nên theo nguyên tắc hiến định phải do cơ quan lập pháp quyết định. Phí và lệ phí gắn với dịch vụ, thủ tục cụ thể ở từng địa phương, nên luật cho phép phân cấp mức thu trong danh mục và khung đã được luật xác định.

Nộp thiếu phí, lệ phí thì có bị tính tiền chậm nộp như thuế không?

Thông thường phí và lệ phí thủ tục được nộp trước hoặc ngay khi làm thủ tục, chưa nộp thì hồ sơ chưa được xử lý, nên ít khi phát sinh chậm nộp. Lệ phí trước bạ do cơ quan thuế quản lý theo thông báo, nếu quá hạn nộp ghi trong thông báo thì có thể phát sinh tiền chậm nộp theo quy định quản lý thuế.

Có khi nào một khoản đổi từ phí sang thuế không?

Có thể, khi Nhà nước thay đổi chính sách. Lịch sử pháp luật Việt Nam có các khoản từng là thuế được chuyển thành lệ phí, như trường hợp trước bạ, và nhiều khoản phí được chuyển sang giá dịch vụ. Vì vậy khi đọc tài liệu cũ, cần xác định văn bản đang áp dụng tại thời điểm giao dịch.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.